Một nguyên nhân khác là công tác khuyến nông và thông tin khoa học kỹ thuật nông nghiệp trong nhiều năm qua chưa thực sự gắn với lao động nữ, chưa giúp lao động nữ tiếp cận với thông tin và tri thức mới để nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất. Các chương trình khuyến nông được xây dựng nặng về kỹ thuật, chưa quan tâm đến đối tượng tiếp thu và thực hành chính ở nông thôn là phụ nữ. Dự án huấn luyện nông dân về quản lý dịch hại tổng hợp ( IPM) do Cục Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tổ chức với sự giúp đỡ của tổ chức Nông lương thế giới (FAO) trong 3 năm 1991-1994 ở 20 tỉnh đã thu hút được 32.770 nông dân tham gia. Tuy nhiên, những dự án đào tạo quan trọng và cần thiết như vậy mới chỉ lôi cuôn được 4.359 phụ nữ, chiếm 13,3%(*) .
Ngoài những vấn để nêu trên, khó khăn lớn đôi với nông dân, nhất là phụ nữ là thị trường, đặc biệt là thị trường tiêu thụ nông phẩm. Thời gian qua, Nhà nước chưa thể hiện đầy đủ vai trò điều tiết của mình trong những lĩnh vực như khai thác thị trường, bảo hộ giá nông phẩm, bảo hiểm mùa màng, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn. Trong khi đó, mạng lưới tư thương chưa đủ kích thích về lợi nhuận để với tới thị trường xa, nh ở ; hoặc chỉ quan tâm tới những lợi ích cá nhân trước mắt mà thiếu ý thức xây dựng quan hệ bạn hàng lâu dài với nông dân.
Sự chênh lệch về thu nhập còn có thể giải thích bằng sự khác biệt về phân bô" thời gian lao động trong ngày giữa phụ nữ và nam giới. Phụ nữ phải dành nhiều thời gian hơn cho những công việc không được tính công trong gia đình. Trong khi đó, nam giới đầu tư nhiều thời gian hơn cho công việc ngoài gia đình V.V..
3. Việc làm và thu nhập của phụ nữ thành thị


3.1.     Đổ thi hóa và viêc làm của phụ nữ

Nói đến đô thị hoá là nói đến quá trình tích tụ dân cư và công nghiệp hoá , phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội cùng nhiều yếu tố khác nữa.
ở Việt Nam, quy mô và tốc độ đô thị hoá còn thấp và không đồng đều. Trưóc năm 1975 do dân ở các nơi dồn về thành thị lánh nạn chiến tranh và làm ăn sinh sông nên tỷ lệ nhân dân ở thành thị ở Miền Nam khá cao, chiếm 31,3%. Trong khi đó ở Miền Bắc vì dân đô thị sơ tán về vùng nông thôn nên tỷ lệ dân số thành thị thấp, chỉ chiếm 12,3%- Bốn năm sau ngày giải phóng tỷ lệ dân số thành thị troñg cả nước là 19,26%. Đến 1989, tỷ lệ nhân khẩu thành thị trong tổng dân số có tăng lên nhưng không cao, khoảng 20,1% %(*). (nối tiếp phần sau……….)

Đọc thêm tại: http://phunuonline24h.blogspot.com/2014/08/vi-tri-vai-tro-phu-nu-trong-oi-moi-kinh_36.html


CHIA SẺ BÀI VIẾT NÀY

ĐẶT MUA