4. Việc làm không ổn định là một thực tế khác mà lao động nữ trong các doanh nghiệp tư nhân phải chấp nhận. Mặc dù gần đây đã có một số chuyển biến tốt song vẫn còn 40% doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu việc làm từ 1 đến 2 tháng trong năm. Tuy nhiên, vấn đề đáng nói ở đây là ngay khi có việc làm thì thời gian, chế độ lao động cũng không ổn định. Khi có hợp đồng cần hoàn thành gấp, công nhân phải làm 13-14 tiếng/ngày, lúc ít việc thường nghỉ hoặc chỉ làm 4-5 tiếng/ngày. Điều này rõ ràng ảnh hưởng đến không tốt đến thu nhập, đời sông gia đình và sức khoẻ của người lao động.
Số lượng và tỷ lệ lớn phụ nữ tham gia kinh tế ngoài quốc doanh không có nghĩa là thị trường tỏ ra ưu đãi hơn đối với phụ nữ. Các kết quả phởng vấn cho thấy ít nhất có ba lý do dẫn đến hiện tượng nêu trên. Một là các chị có ít cơ hội hơn nam giới để tìm việc và duy trì việc làm ở các cơ quan xí nghiệp nhà nước. Hai là trách nhiệm lo cơm áo, gạo tiền cho gia đình thường xuyên đặt người phụ nữ trước tình thế gay gắt, buộc phải bươn chải nhiều hơn so với nam giới. Ba là, do chịu áp lực lớn hơn của tình trạng thất nghiệp nên phụ nữ dễ có xu hướng chấp nhận nhũng công việc nặng nhọc, tốn thời gian và có thu nhập thấp.
Vì vậy, có thể nói rằng, chủ yếu vì trách nhiệm và nhu cầu kinh tế đối với bản thân và gia đình mà phụ nữ tở ra sẵn sàng làm nhiều loại công việc khác nhau trong khu vực ngoài quốc doanh. Nói cách khác, đối với phụ nữ đang làm việc trong khu vực kinh tế này, áp lực " đẩy " của sự cần thiết phải có công ăn việc làm là mạnh hơn nhiều so với sức hút hấp dẫn của bản thân việc làm.
3.2 Thu nhập
Đặc điểm cơ bản nổi bật từ thực trạng việc làm nêu trên là phần lớn phụ nữ tập trung vào những ngành nghề có thu nhập thấp. Đặc điểm thứ hai là thu nhập của phần đông lao động nữ không chỉ thấp hơn mặt bằng thu nhập chung mà còn thấp hơn so với nam giới và ừhứ ba là tiền lương, tiền công của lao động nữ thường không ổn định. (nối tiếp phần sau……….)


Đọc thêm tại:


CHIA SẺ BÀI VIẾT NÀY

ĐẶT MUA