Thứ ba là vai trò điều tiết của các chính sách về lao động và việc làm chưa theo kịp những yêu cầu của tình hình mới. Ví dụ, Bộ luật Lao động ban hành năm 1994, nhưng đến năm 1995 còn thiếu một số văn bản hướng dẫn thực hiện nên nhiều quy định của Bộ Luật chưa phát huy tác dụng trong thực tế cuộc sống. Một ví dụ khác là trong khi sự nghiệp đào tạo và giáo dục có xu hướng thực sự trở thành một trong những trọng tâm chiến lược của phát triển kinh tế xã hội, thì chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ trong khu vực này chậm đổi mới. Kết quả là hiện tượng giáo viên bỏ việc hoặc ít quan tâm đên nghề nghiệp đang làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu giáo viên và xuống cấp về chất lượng của ngành giáo dục phổ thông.
Riêng đối với lao động nữ, sự điều chỉnh vĩ mô thông qua các quy định của Nhà nước hầu như bị buông lỏng. Cơ chế kiểm tra, giám sát các vấn đề về lao động nữ không được các cấp quan tâm. Vấn đề lao động nữ hầu như phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng đơn vị. Tuy nhiên, ngay trong những đơn vị kinh tế được coi là đã trụ vững trong môi trường cạnh tranh thì việc làm của nữ công nhân cũng không ổn định. Trong cuộc điều tra 134 lao động nữ vào tháng 9/1993 tại 6 doanh nghiệp quôc doanh ở Hà nội - Hà đông cho thấy chỉ có 65% số nữ công nhân cho biêt việc làm của họ là khá đều đặn.số còn lại có việc làm không thường xuyên, Như vậy, từ khía canh xã hội, 35% nữ công nhân chưa có việc làm đểu đặn là con số đáng kể.
Tóm lại là khu vực kinh tế nhà nước đang có những thay đổi lốn về cơ cấu, tổ chức và quản lý. Những chuyển biến như vậy có xu hướng thu hẹp số iượng việc làm và thay đổi tính chất lao động. Trong bối cảnh này, chịu tác động của những tính toán hiệu quả đơn thuần từ phía người sử dụng lao động, lại thiếu sự chỉ đạo, điều tiết của chính sách vĩ mô, một bộ^phận nữ cán bộ, c ở ng nhân viên đã rơi vào tình trạng không có việc làm hoặc việc làm không ổn định. Lao động nữ ngày càng khó tim kiếm việc làm trong khu vực kinh tế nhà nước. (nối tiếp phần sau……….)

Đọc thêm tại:





CHIA SẺ BÀI VIẾT NÀY

ĐẶT MUA