Cơ cấu lại khu vực nhà nước*
Ở nước ta trong một thời gian dài, bắt đầu từ 1955, lao • động nữ tăng nhanh và chiếm tỷ lệ khá cao trong khu vực kinh tế nhà nước.
Năm 1992, lao động nữ ở khu vực hành chính, ồự nghiệp chiếm 50,0% tổng số lao động. Tỷ lệ phụ nữ cao nhất là trong y tế và giáo dục. Nữ cán bộ công nhân viên trong ngành Y tế là 62,3%; trong ngành Giáo dục và đào tạo là 76,2%, trong đó giáo dục mầm non và phổ thông cấp I là trên 80%. Tuy nhiên, xét toàn bộ khu vực quốc doanh thì ngay ở thời điểm cao nhất lao động nữ cũng chưa bao giờ vượt quá 50% tổng số' lao động. Mức độ tham gia của lao động nữ vào khu vực kinh tế nhà nước có biến động rõ rệt qua các thời kỳ.
Số lượng lao động nữ ở khu vực nhà nước tăng nhanh trong những năm 60 và đến giữa những năm 70. Chúng ta biết đây là thời kỳ miền Bắc dồn sức người và các nguồn lực cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, xây dựng và bảo vệ miền Bắc. Nam giới được huy động ra tiền tuyến còn phụ nữ, bên cạnh việc sát cánh cùng cha anh trên mặt trận đã được động viên thay thế nam giới ở hậu phương trên rất nhiều lĩnh vực. Kết quả là tỷ lệ lao động nữ trong khu vực quốc doanh đã tăng từ 15% năm 1960 lên trên 42% năm 1975.
Tuy nhiên, sau thời điểm này bắt đầu có những thay đổi. Nhịp độ tăng tỷ lệ lao động nữ có xu hướng giảm sút vào cuối những năm 1970 và giảm nhanh hơn trong những năm gần đây ( Biểu đồ 3.2). Điểu này phần nào có thể cho thấy cho thấy tính chất " dự bị ", " lấp chỗ trông " của lực lượng lao động nữ khu vực quốc doanh trong điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể.
Xu hướng giảm lao động nữ trong khu vực nhà nước thể hiện rõ hơn trong một số ngành kinh tế quốc dân. Khi xem xét điều này có thể thấy tính chất không đồng đều, mất cân đối của việc phân bố lao động nữ. (nối tiếp phần sau……….)

Đọc thêm tại: http://phunuonline24h.blogspot.com/2014/08/vi-tri-vai-tro-phu-nu-trong-oi-moi-kinh_38.html


CHIA SẺ BÀI VIẾT NÀY

ĐẶT MUA